Thứ Hai, 17 tháng 3, 2008

CAO HUY KHANH

TƯỞNG NIỆM SƠN MỸ (16.3.1968)

NGƯỜI SỐNG SÓT 2 LẦN

Tượng Đài Sơn Mỹ (ảnh baodaidoanket.net)

Cao Huy Khanh

Sống sót lần đầu từ vụ thảm sát Sơn Mỹ, ấy là trường hợp của Đỗ Hòa một trong số ít người sống sót nhờ lính Mỹ tưởng rằng… đã chết! Lần sau thì sống sót và tồn tại được sau khi bị… đi tù đến 3 lần!

Lần đầu lúc đó Hòa mới 9 tuổi nhờ nằm dưới một lớp xác chết – trong đó có thể có cả mẹ và 3 đứa em – nên tránh được đạn bắn, sau đó vùng dậy chạy ra ngoài thì may sao được 2 viên phi công Mỹ Hugh Thompson và Lawrence Colburn cứu đem lên trực thăng đưa về bệnh viện cứu chữa. Nay anh vẫn còn sống và từ đó người ta còn biết thêm được cả một quãng đời còn lại sau này của anh trong đó có lúc gần như cũng… suýt chết thêm một lầøn nữa - theo một cách khác.

Thực ra ở vụ Sơn Mỹ, Đỗ Hòa hoàn toàn không bị bắn một phát đạn nào cũng không chịu một vết thương nào mà máu me dính trên người là máu của các… thây người đè lên mình nên khi được 2 ân nhân Mỹ cứu mạng đem vào bệnh viện Chu Lai (và nghe nói định đưa qua Mỹ luôn), anh đã bỏ trốn về nhà tìm xem mẹ và các em thế nào. Dù còn nhỏ song anh vẫn tìm được đường về nhà nhưng đến nơi thì chẳng còn gì kể cả người thân lẫõn gia đình. Ngoài mẹ và 3 em bị bắn chết tại Sơn Mỹ, cả ông nội, cha, chú, cô ruột đều theo Cách mạng lần lượt hy sinh hết nên cuối cùng anh phải qua ở với ông bà ngoại ở gần đó cho đến ngày Giải phóng.

Sau 30.4, Đỗ Hóa học tới lớp 7 được Nhà nước “phát hiện” đưa đi Đông Đức năm 1978 làm công tác chứng nhân tố cáo tội ác chiến tranh của Mỹ. Nhưng sau đó được trả về Quảng Ngãi trở lại nếp sống bình thường, thấy ôâng bà ngoại làm lụng vất vả quá mà cũng không chịu được cảnh nghèo khổ cùng quẫn (khác hẳn với lúc đi Đông Đức đóng vai trò chứng nhân lịch sử) mới sinh lòng chán nản bỏ học vào TPHCM đạp cyclo. Chế độ quan tâm trợ giúp thuơng binh liệt sĩ, nạn nhân chất độc da cam ngày nay còn chưa tới đâu huống gì thời đó trường hợp như Hòa dễ dàng rơi vào quên lãng thôi.

Tại TPHCM rồi Hòa cũng lấy vợ (cũng là con mồ côi nhà nghèo quê ở Nhà Bè làm nghề thợ hồ) có được một con 3 tuổi. Nhưng được một thời gian không kham nổi nghề đạp cyclo cực nhọc xứ người (mà phải có tiền mua hoặc thuê cyclo mới có mà đạp) bèn bỏ nghề sốâng kiểu dân bụi đời lang thang vạ vật qua các công viên. Túng quá hóa làm liều… trộm cắp… bị bắt ở tù 9 tháng năm 1987!

Ra tù cũng chẳng giải quyết được chuyện gì khi vợ Hòa đã ôm con bỏ đi, muốn về quê thì không có tiền, thế là ngựa quen đường cũ… ở tù tiếp 18 tháng năm 1988 cũng vì tội trên. Đến 1992 lại ra tù và lại… vào tù nữa mà lần này với tội danh nghe khủng hoảng hơn nhiều: Tội phá hủy công trình, phương tiện an ninh quốc gia! Thực ra đó là tội cùng một dân bụi đời khác cắt… dây điện ở trụ điện đem bán đồ lạc-xon lấy ít tiền xài nhưng luật pháp thời đó chỉ có điều khoản này để ghép vào nên rốt cuộc Hoá lãnh án tới 10 năm tù.

Ở tù thui thủi một mình nhiều năm dài mà hoàn toàn không có ai biết tin thăm nuôi bởi ruột thịt chỉ còn ông bà ngoại già cả ở quê xa chẳng thể biết đứa cháu lạc loại nay ở nơi đâu, tương lai mờ mịt như thế có khác gì lâm tới chỗ tuyệt vọng cùng cực chết đi cho xong?

May mắn đến năm 1998 vẫn còn nằm trong nhà tù nhưng nhân kỷ niệm 30 năm vụ thảm sát Sơn Mỹ, có nhà báo cùng quê Quảng Ngãi đã truy tầm ra tung tích Hòa đưa lên báo nhờ đó sau khi mãn án tù thứ ba (chắc có được ân xá giảm án?), Đỗ Hòa được giúp đỡ làm lại cuộc đời trở thành công nhân ở TPHCM nay đã lấy vợ khác sinh được một con trai.

Có phải đúng là một con người sống sót 2 lần không, lần đầu từ chiến tranh, lần sau từ… sau chiến tranh? Sau khi là nạn nhân “bị chỉ định” của chiến tranh (lệnh quân Mỹ “Giết hết không tha”) lại trở thành nạn nhân bất đắc dĩ của… hòa bình trong một thời Hậu chiến đầy mâu thuẫn dằn xé tan nát không ít số phận cuộc đời…

(Trích “Việt Nam – Hồ sơ Hậu chiến”)

CHK, tháng 3.2008

* Tư liệu tham khảo: “Ký sự pháp đình” của Thủy Cúc, báo Tuổi Trẻ xb 1996; báo Thanh Niên 16.3.2008…

Nguyễn Thượng Hỷ

CÀ PHÊ QUÁN CÓC VÀ TRANH VAN GOGH


Hoạ sĩ Nguyễn Thượng Hỷ

Xem tranh Van Gogh danh hoạ người Hà Lan vẽ quán cà phê trên vỉa hè đường phố nước Pháp, lòng tôi bỗng xao xuyên trước cảnh tập nập nhưng trật tự và lịch sự đó. Trong không gian se lạnh, một tách cà phê nóng và điếu thuốc lá thơm nhìn ngắm nam nữ dập dìu, ai dám nói rằng quán café vỉa hè không sang trọng… Phải nói rằng chỉ có ở Việt Nam mới tồn tại loại café vỉa hè.

Tôi có dịp ở Nhật 6 tháng, tranh thủ tìm không gian rộn ràng như đi hội để thưởng thức ly café ở đây nhưng không có. Có lẽ không gian café ở Pháp đã du nhập vào nước ta như xem bức tranh của Van Gogh vẽ quán café Tabac thì thấy đó là khung cảnh quán café bên lề đường thường thấy ở Việt Nam.

Trước đây ở Huế có rất nhiều quán café học sinh, sinh viên thầy giáo, công chức đến các anh xích lô, thợ hồ, thợ mộc, người dân lao động tha hồ chọn quán. Đa số các quán mọc bên đường, góc ngã tư, góc ngã ba, người uống café ngồi thường chiếm luôn vỉa hè nhưng ngưòi đi bộ chẳng lấy gì làm phiền hà. Hồi đó từ năm 1965 - 1972, ở Huế quán đứng đầu café Lạc Sơn, café Phấn ở phố Trần Hưng Đạo; xuống một chút là café Thọ ở chân cầu Gia Hội; trong thành nội có quán café Tôn gần cổng Hiển Nhơn của Hoàng thành, sau đó có cafe Bà Dì mà sinh viên trường Nghệ thuật (Âm nhạc - Mỹ thuật) hay uống vì các quán này đều có bán các món điểm tâm như xôi, bún … hợp với túi tiền sinh viên chúng tôi. Ngày trước ở Huế có vài quán café khá dễ thương thu hút nhiều bạn trẻ sinh viên như Da Vàng, Góp Gió ở bên đường Lê Lợi thơ mộng, vào trong Thành Nội có quán Dung, Chiều Tím, Vông Vang, Khánh Quỳnh … Có cả một quán café được nhóm sinh viên lấy tên nhân vật nữ nổi tiếng trong “Tiếu ngạo giang hồ” là Doanh Doanh, một quán lấy tên mỏ dầu ở biển Đông miền Nam “Hoa Hồng Chín”. Sau này nhiều quán được giới trẻ - nhất là các sinh viên từ nam ra, từ bắc vào - rất thích ghé vào như dãy quán ở Đập Đá, dãy quán ở đường Trần Thúc Nhẫn, Nguyễn Huệ.

Ở Đà Nẵng có quán café Xứng, café Thành Long ở chợ và bến xe luôn luôn đông khách dân lao động. Ngoài ra còn café Lộng Gió, Tuổi Ngọc. Vào phố cổ Hội An, tôi lại thích vào quán café Chanh mà hiện nay vẫn còn như linh hồn phố cổ. Lên Đà Lạt thì vào quán của các văn nghệ sĩ là café Tùng, một quán nhỏ nhưng rất ấm cúng, trang trí một số bức tranh của hoạ sĩ Đinh Cường, Nguyên Khai. Quán này đã được nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn đưa vào Tiểu thuyết “ Hình như là tình yêu ”, tác phẩm được dân café trẻ ưu ái đón nhận một thời.

Uống café thường đem đến cho ta nhiều cảm giác, nhất là đối với người đi xa khi đến thành phố khác… Vào Sài Gòn trước 75 uống café vỉa hè ở đường Pasteur, đông nhất ở cổng trường Lasan Tabert hay café Duy Tân (tên đã được nhắc đến trong một ca khúc). Sang trọng hơn là vào quán hộp La Pagode, Rex ở đường Tự Do.

Ra Hà Nội năm 1985, ghé quán café Lâm ở phố Nguyễn Hữu Huân là quán nổi tiếng vì treo nhiều tác phẩm của danh hoạ Vịêt Nam từ trường Mỹ thuật Đông Dương. Xuống Hải Phòng mùa hạ thành phố ngợp hoa phượng đỏ thì nên nhâm nhi ly cà café ở chợ Sắt. Nhưng thú vị nhất, chỉ mới đây thôi qua Phú Yên, xe ngừng chạy đêm, uống ly café ở bến xa thành phố Tuy Hoà, giá chỉ một ngàn rưởi nhưng thật ngon. Hồi chưa có cầu bắc qua, khách ngừng đợi ở Bến Thuỷ, Phà Gianh, uống ly café đen nóng với có một chút bơ ở đầu muỗng và thêm một chút muối cũng gây ấn tượng về khẩu vị riêng. Hình như ở Việt Nam các quán café ở ga tàu, bến xe đều dễ uống, cũng dễ hiễu thôi vì giá rẻ.

Bây giờ thì nhiều quán café quá! Nhất là loại quán café hộp, cafeteria, café Bar, café Vườn. Nhiều người kinh doanh quán café ngày nay, dường như đang rất “hot”, là “mode” thời thượng, sính được mở quán café ở trong khu vườn được cải tạo biến hoá nhờ bàn tay nghệ sĩ, nghệ nhân vốn là những người tạo dáng sinh vật cảnh rất hiệu quả. Những quán này chỉ thu hút khách vào hạng đại gia lui tới thôi.

Tôi có cô bạn người Nhật khi vào quán café vườn thắc mắc hỏi tôi vì sao bây giờ từ Bắc vào Nam thấy quán café nào cũng chơii nghệ thuật sắp đặt? Từ cái lu, vại nước, cối đá đến cái xe nước chạy môtơ điện và dĩ nhiên thêm hòn non bộ, suối chảy, tre chuối trồng ven hồ thì không thể thiếu, vài quán còn dùng tre làm chụp đèn hay mua mấy chục cái đèn lồng tại phố cổ Hội An về trang trí từ ngoài cổng vào đến bên trong quán, ra cả ngoài vườn. Cô ta hỏi tiếp phải chăng đây là “phong cách Việt”? Gần đây mấy đại gia sành điệu mua vài cái nhà rường ở miền Trung - chủ yếu ở Huế, Quảng Nam - về đặt ở trung tâm thành phố mở café để câu khách mang nỗi niềm “thương nhớ quê nhà”. Cô bạn Nhật của tôi là kiến trúc sư rất hiểu về kiến trúc cổ Việt Nam lại cắc cớ chất vấn tôi “Nghe ông nói nhà ba gian với gian giữa linh thiêng thờ cúng, còn hai gian bên chỉ có đàn ông mới được nằm nghỉ nhưng tại sao lại trở thành quán café ầm ĩ quá vậy?”

Tôi lắc đầu chào thua!

NTH, tháng 2.2008.

Chủ Nhật, 9 tháng 3, 2008

CAO HUY KHANH

cập nhật lúc 6 giờ ngày 5-3-2008

Cao Huy Khanh

VIẾT VĂN NHƯ… MUA VÉ SỐ!

(Lời bạt cho tập truyện “Mê đạo” của Lê Xuân Tiến *)

Truyện “Mê đạo” được dùng để đặt tên chung cho tập truyện này hẳn được tác giả yêu thích cho là hay nhất, tác giả nói như thế nhưng tôi lại không nghĩ như thế. Có thể vì tôi bây giờ trần tục thô thiển “thực dụng” quá, đã qua rồi thời “Buồn ơi chào mi!”. Nhưng không trách được bởi hình như cũng giống như… mọi người – trong đó chắc có tác giả - thôi mà!

Truyện chủ lực “Mê đạo” có thể xem như thuộc loại “huyền truyện” dựa trên những giai thoại dân gian có tính lịch sử để hư cấu, vẽ vời thêm sự kiện chi tiết nhằm “gài” vào đó những ẩn dụ nào đó theo ý người viết. Ở đó có nhiều ý nghĩa thâm thúy, triết lý cao siêu lắm về lẽ đời lẽ đạo, nhân nghĩa tình người cho đến sự nghiệp dờøi non lấp biển hay cả vận mệnh quốc gia nữa kia. Tất cả được thể hiện gián tiếp qua cách diễn đạt văn phong biền ngữ sắc gọn cô đọng phù hợp mà tác giả – thuộc thế hệ “Hậu chiến” - tỏ ra có tay nghề vận dụng thành thạo đáng ngạc nhiên.

Nhưng đây là thể loại hơi… lỗi thời rồi lâu này và hiện nay ít thấy xuất hiện nữa, nhất là trong cái thời đại thông tin trực tuyến nói thẳng nói thật nói nhanh gọn chứ chẳng ham nói loanh quanh như bây giờ. Có lẽ cùng với thời gian, quá trình từng trải, tác giả cũng đã nhận ra điều đó nên bên cạnh “Mê đạo cổ điển” dạy bài học làm người còn hiện diện một số “Mê đạo hiện đại” là chuỗi truyện ngắn phân tích tâm lý con người trong nếp sống công nghiệp hóa xô bồ hóa hiện nay gây ấn tượng đáng chú ý như “Tàu đêm”, “Nằm viện”… Ở đây thế mạnh của tác giả trong khả năng đi vào những ngóc ngách tâm tình sâu thẳm phức tạp dằn xé giữa những mâu thuẫn nội tâm được phát huy khai thác cái đáy sâu âm thầøm lắng đọng dưới bề mặt yên ả đời sống bình thường hàng ngày của mỗi người trong đó nổi lên nỗi cô đơn đau buốt của mẫu nhân vật nữ được ưa thích là người bị tình phụ. Thật lạ khi đây cũng là khuynh hướng truyện ngắn đặc sắc trước đây của một nhà văn gốc Quy Nhơn đồng hương với tác giả.

Cho nên dễ hiểu ở đây hay bất cứ ở đâu viết về quê hương thuờng là viết hay nhất, nó làm nên những trang văn sâu và đẹp: “Ven hàng rào nhà ga chợt sáng lên những chùm hoa dại trong đó có lẫn lộn những chùm hoa ổi tàu với những sắc đỏ vàng làm chợt nhớ “năm tháng xa xôi hoa ổi tàu hoang dại”…Biển và trời trải rộng xa thẳm, chỉ thấp thoáng vài dãi núi mờ mờ. Bãi cát hoang sơ trắng xóa, mấp mô những sợi rau muống biển nhẹ nhàng vừa êm ái…”. Chiều sâu tâm lý nhân vật như gặp được chất kích thích gây mê chìm đắm trong tầng lớp tiềm thức kêu gọi xúc cảm chân thật: “Hiền sống trong gió biển và tiếng sóng biển luôn ầm ì trong giấc ngủ. Vì thế vào thành phố nỗi nhớ quê của Hiền chính là nhớ biển. Có đêm nằm mơ, Hiền thấy mình nằm trên bãi cát dưới những hàng dương lồng lộng gió để rồi thức giấc trong cái nóng bức và bẩn chật của thành phố bê tông mới thấy nhớ tiếc.” (truyện “Tàu đêm”). Quả là khó lẩn vào đâu được chất văn của người dân phố biển Quy Nhơn, thuần chất thô ráp mạnh mẽ như nhân vật Chàng Lía của “Mê đạo”. Nhưng không phải là không tiềm ẩn nét lãng mạn mặn mà của vị muối biển bởi đừng quên nơi đây từng một thời nuôi dưỡng mầm mống nhạc Trịnh.

..............................................................................

Thường người ta chỉ biết tác giả là một nhà báo – lại là nhà báo… thể thao! - chứ không ngờ còn là một người viết truyện ngắn tuy vào nghề khá lâu (đầu những năm 90) song dường như sau đó đã có ngưng lại một thời gian rồi gầøn đây mới viết lại nên dễ hiểu là có khoảng cách giữa hai giai đoạn đó cũng như chưa định hướng rõ nét, chưa có sự chăm chút đồng đều đối với mỗi truyện từ kết cấu đến ngôn ngữ. Nhưng dù sao tác giả vẫn đã có một cuộc bắt đầu lại đủ để hy vọng hình thành một cái mới gì đó ít ra cũng đối với bản thân mình.

Và đó mới là điều đáng quý khi đặt ra câu hỏi hà cớ gì anh quay trở lại với sáng tác truyện ngắn mà với nghề nghiệp nhà báo anh đã quá biết nó đại hạ giá như thế nào trong cái thời buổi văn chương đảo lộn nhiễu nhương rẻ hơn bèo hôm nay? Có thể đây là một cách “tự cứu” giữa cái thế giới hoàn hảo như mộng tưởng never never đối với một con người đã kinh qua bao thăng trầm thế sự cõi ta bà để từ đó mới ngộ ra chân lý của Dostoievski “Cái đẹp cứu chuộc thế giới”. Mà trong thế giới đóù ngoài anh ra còn có biết bao người khác nữa nên hãy xem tập truyện này là một món quà như hai tấm vé số “đừng mơ chuyện trên trời” mà ngày qua ngày người ta vẫn mua đấy thôi (truyện “Nằm viện”). Bà bán vé số dạo, các em bé bán vé số trên đôi chân ngàn dặm – chứ không phải là đôi hia – xin hết sức cám ơn!

Mua vé số là mua hy vọng. Cho nên viết truyện cũng là một cách mua vé số không chỉ cho mình mà còn cho cả cuộc đời, cho nhân gian. Và đọc truyện cũng thế, là mua hy vọng, chúng ta cứ mua hy vọng đi có sá gì. Không cần trúng!

Cao Huy Khanh

TPHCM tháng 12.2007

(*) Nxb Văn Nghệ TPHCM, tháng 1.2008.

Cùng một tác giả:

CHIẾC NHẪN CƯỚI CỦA MẸ TÔI

NÓI CHUYỆN GIÁO DỤC, NHỚ THẦY ĐÔNG HỒ

Cao Bá Quát:

NHỮNG CÂU HỎI VỀ CUỘC

THƠ BỆNH BÍCH KHÊ

Nguyễn Khuyến:NGƯỜI ĐAU MẮT

BẢN DANH SÁCH “ĐEN” CỦA TÚ XƯƠNG

SÔNG HƯƠNG LÀM ƯỚT CẢ ĐỜI TÔI

CAO HUY KHANH

Ngày 8.3

-------------------------------------------

CHIẾC NHẪN CƯỚI CỦA MẸ TÔI

Cao Huy Khanh

Vợ tôi vừa bị mất nhẫn cưới lúc nào không hay, có lẽ do rửa chén loay hoay sao đó xà bông làm chiếc nhẫn trơn tuột rớt xuống lỗ cống luôn. Tôi bèøn tháo chiếc nhẫn của mình đưa cho gọi là đeo “bù” nhưng côâ ấy... không chịu làm như thể sợ tôi được “giải phóng” vậy! Thế là lại phải đeo vào, cả lần tháo ra lẫn đeo vào lại đều khá khó khăn khi đó mới thấy à thì ra ngón tay mình bây giờ nó... mập ra!

Xoay xoay chiếc nhẫn trong ngón tay tôi chợt nhớ mẹ tôi quá, trước đây bà cũng chẳng còn chiếc nhẫn cưới của mình nữa vì đã đem đi bán lấy tiền nuôi anh em tôi trong những ngày khó khăn thời bao cấp xa xưa kia. Hẳn bà đã lặng lẽ khóc khi phải đem bán nó đi, món cuối cùng đáng giá trong nhà được đem bán, hồi đó chiếc nhẫn cưới 5 phân bán cũng được kha khá tiền đóng sổ gạo. Trong chiến tranh đã có biết bao “Bà mẹ VN Anh hùng” thì sau chiến tranh không biết có bao nhiêu bà Mẹ bán chợ trời, đi buôn chuyến đường dài lây lất ngày đêm trên tàu hoả ngược xuôi nuôi chồng học tập, nuôi con mất việc lang thang không hộ khẩu. Đau đớn thay đến thời đổi mới, con cái làm ăn sống được, khá giả lên thì bà chẳng còn nữa bởi tuổi già thân gầy guộc không chịu nổi gánh nặng lao lực bao năm đằng đẳng. Chúng tôi đềøu trở thành những đứa con bất hiếu.

Ngược lại với người không còn nhẫn cưới như mẹ tôi, tôi từng thấy và biết một người chị trên ngón tay ấy đeo tới... 2 nhẫn cưới! Không phải chuyện đùa đââu mà là một chuyện có thật cảm động lắm: Chị có 2 người chồng đều ra đi hy sinh trong thời chiến tranh, sau đó chị cứ ở vậy thờ chồng nên vẫn mang cả 2 chiếc nhẫn để lúc nào cũng tưởng nhớ đến người xưa, người chồng nào với chị cũng đều đáng kính trọng cả. Lạ một điều là cả 2 người chồng đều chỉ mới hứa hôn chưa chung sống với chị ngày nào thì đã vội bỏ mình trong cuộc chiến, một người ngoài chiến trường một người từ nhà tù. Và còn kỳ lạ hơn khi người đầu là sĩ quan quân y chế độ cũ tử trận đã khiến chị chán ghét chiến tranh chuyển qua hoạt động đấu tranh cho hòa bình từ đó mới gặp gỡ người chồng sau vốn là một… cán bộ cách mạng!

Câu chuyện nhẫõn cưới kể trên thật như một hình ảnh tượng trưng cho thân phận người đàn bà – qua đó là thân phận con người và cả dân tộc nữa – trong cuộc chiến tranh chia rẽ đã qua.

Tất cả họ – còn nhiều nhiều người như vậy nữa – đều là những người phụ nữ vô cùng lớn trong sự chịu đựng, thiệt thòi và mất mát đối với bản thân mình.

…………………………………………………………….

Thấy cô vợ vẫn có vẻ tiếc tiếc sao ấy, tôi bảo có gì đâu đi mua cái khác giống hệt vậy mà đeo vào liền được lãnh một cái lườm mắt sắc như dao cạo: “Cái mới nào cũng làm sao bằng được cái cũ!”. Đúng vậy, cho dẫu nhẫn hột xoàn chăng nữa cũng không thể thay thế được nó vì ấy là một món đồ nữ trang chứ đâu phải như “chiếc lá vàng làm bằng chứng yêu em”. Nhẫn hột xoàn do đó có khi đeo khi không chứ nhẫn cưới dẫu có 2-3 phân vẫn luôn luôn nằm thường trực ở ngón tay trái áp út đó của bất cứ người mẹ, người vợ nào.

Cao Huy Khanh


Cùng một tác giả:

CHIẾC NHẪN CƯỚI CỦA MẸ TÔI

NÓI CHUYỆN GIÁO DỤC, NHỚ THẦY ĐÔNG HỒ

Cao Bá Quát:

NHỮNG CÂU HỎI VỀ CUỘC

THƠ BỆNH BÍCH KHÊ

Nguyễn Khuyến:NGƯỜI ĐAU MẮT

BẢN DANH SÁCH “ĐEN” CỦA TÚ XƯƠNG

SÔNG HƯƠNG LÀM ƯỚT CẢ ĐỜI TÔI

Thứ Hai, 3 tháng 3, 2008

CAO HUY KHANH

NÓI CHUYỆN GIÁO DỤC, NHỚ THẦY ĐÔNG HỒ
CAO HUY KHANH

Mỗi năm hoa đào nở ….
Tôi không phải là học trò của nhà thơ Đông Hồ (1906 –1970) dù những năm cuối thập niên 60 tôi cũng học ở Đại học Văn khoa Sài Gòn cũ (nay là Khoa Văn ĐH Tổng hợp đường Đinh Tiên Hòang, nằm bên cạnh Đài TH TPHCM), nơi ông đã dạy học 5 năm cuối đời. Thứ nhất do ông dạy môn Văn học miền Nam ở Chứng chỉ Văn chương Quốc âm trong lúc tôi học khoa Triết Tây . Hai nữa là tự nhiên tôi thấy… không thích ông mấy.
Không ưa vì nhiều lẽ. Thơ ông vào thời đó là quá cũ, một kiểu “Hậu Nam Phong”, biền ngẫu thêu hoa dệt gấm với phong cách thế kỷ thứ 19 thì làm sao mê nổi. Con người ông lại quá đẹp theo kiểu nữ tính: Người mảnh khảnh gần như ẻo lả nhưng vẫn thanh tú, môi đỏ, da hồng, ăn mặc chải chuốt, (kể cả móng tay cũng được chuốt kỹ càng), nói năng nhỏ nhẹ, đi tới đi lui lất phất đúng như kiểu cách mô tả “dời gót hài”.
Đặc biệt cách dạy học của ông cũng khác người nữa (thỉnh thỏang rỗi việc tôi cũng vào lớp ông nghe ké vài buổi thường buổi sáng thứ ba hàng tuần): Dạy kiến thức thì ít mà kể chuyện đời, nói chuyện đạo lý lan man thì nhiều, biến lớp học thành ra giống như một buổi họp gia đình thân mật cha con vậy. Ngoài đời ông cũng rất sành những thú chơi tao nhã cực kỳ siêu tuyệt mà chẳng bao giờ chúng tôi theo nổi, chịu nổi như chơi cây cảnh, viết câu đối, đốt hương trầm, vẽ tranh Tàu, chơi sách cổ… Có lần vào dịp Tết đến, ông còn thắng nguyên một bộ quốc phục bằng lụa gấm, tay cầm quạt ngà như một ông tiên ngất ngưởng đến trường vậy!
Trong lúc đó thì ngoài đường, dưới phố, trên báo chí và ở những bãi chiến trường xa xôi, một xã hội chiến tranh vẫn không ngưng xé nát những đời người và lòng người. Sinh viên đấu tranh xuống đường, hàng rào kẽm gai, phi tiễn và lựu đạn cay, Tòa án quân sự đặc biệt, chuồng cọp… Trong tình cảnh đó quả là thật khó mà nuốt cho được những bài giảng triết lý Đông Phương kiểu “có mà không, không mà có” hết hiểu nổi (của một ông thầy giảng bài “trên trời” khác, cụ Nguyễn Duy Cần) hoặc những hình ảnh lá hoa cây cỏ hoang sơ, lãng đãng dìu dặt ngập tràn lớp học của thầy Đông Hồ.
Năm thầy Đông Hồ mất cũng là năm tôi ra trường đi dạy ở tỉnh xa, đến lúc đó, lúc đã thực sự bước chân vào nghề dạy học tôi mới nhiều lần sực nhớ đến ông, đến cái lớp học kỳ lạ của ông – lớp học chuyên dạy về những nghĩa lý của cuộc sống, về đạo làm người mà cái đầu đề của mỗi tiết giảng trong chương trình chỉ là một cái cớ không hơn không kém. Bởi khi ấy tôi cũng muốn thông qua Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Công Trứ…. để nói lên với học trò mình một cái gì đó nằm ngoài các cuốn sách giáo khoa thuần túy. Đó là vô vàn câu hỏi mà chúng cần lời giải đáp: Hỏng (hay đậu) Tú tài rồi, em phải làm gì? Có phải đi lính không? “Dấn thân” nghĩa là gì? Bao giờ có hòa bình? Em có biết nông thôn mình bây giờ bị chiến tranh tàn phá thế nào không? Yêu nước là như thế nào? Chữ Tình, chữ Hiếu, chữ Nhân làm sao phân biệt? … Tất nhiên phải tìm cách nói khéo khéo một chút chứ không cũng gặp rắc rối với một vài ông sếp từng mang lon trung uý, đại úy biệt phái về trường.
Đến lúc đó tôi mới thấm thía bài học của thầy Đông Hồ (tuy có phần thầy dạy “ngoài đề” hơi nhiều): Không, dạy học không phải chỉ là dạy kiến thức suông mà còn phải dạy cho thế hệ kế tiếp “nên người”! Chỉ có khác là cái mục tiêu nhắm đến của tôi nó thực tế hơn, trực diện hơn và đó là do tôi cách ông không chỉ một mà là đến hai thế hệ. Nhưng chắc chắn khả năng dạy học của tôi khó có đủ sức thuyết phục, cảm hóa , đi sâu vào lòng người bằng thầy được .
Sự nghiệp thầy Đông Hồ để lại có nhiều: Nhà thơ, nhà báo, nhà xuất bản, nhà nghiên cứu văn học… nhưng có thể nói cái nào cũng hoặc là dang dở, hoặc chỉ có giá trị lịch sử chứ chưa đạt tới đỉnh cao. Duy chỉ có sự nghiệp giáo dục văn hóa dân tộc của ông có lẽ để lại nhiều ấn tượng thực tiễn cao đẹp nhất. Mới 20 tuổi đã cả gan mở ra trường tư “Trí Đức học xá” ở tận cái đất Hà Tiên khỉ ho cò gáy dưới thời Pháp thuộc, sau đó tất cả các hoạt động khác đều qui về một chủ đích tuyên truyền, cổ động cho tiếng Việt và đến cuối đời lại trở về đứng trên bục giảng ĐH Văn Khoa.
Hẳn đó cũng là thời gian đẹp nhất, hạnh phúc nhất đời ông khi được thực sự đóng vai trò một ông đồ Nho giữa một đám môn sinh đầu xanh tuổi trẻ mà ông xem như con. Vì lý do đó mà một lần nữa ông tự nguyện rời bỏ cái nếp tâm lý bình sinh thích “ở ẩn” của mình để tìm đến với thế giới đông đúc bên ngoài. Cả đời ông, ông đã đi “ở ẩn” nhiều lần, có khi là về Hà Tiên ở ẩn hẳn, có khi dù ở Sài Gòn làm việc nhưng ngay sau lưng phòng làm việc (ở đường Kỳ Đồng) vẫn dành ra một khoảnh giang sơn để “ở ẩn” (ông đã chẳng đặt tên cho nó là “Đại Ẩn Am” sao?). Những nhà Nho bất đắc chí thường vẫn quen hành xử một cách bất cần đời như thế nhưng khi trở lại với các môn sinh để tiếp tục thực hiện nguyện vọng bồi đắp cho nền văn học dân tộc tương lai, niềm vui của ông thật tràn trề:
“Đây thế hệ anh hoa tuấn tú
Đêm ngày đang vui thú sách đèn
Say sưa nghĩa lý thánh hiền
Đông Tây kim cổ triền miên mộng vàng
Đang đợi những huy hoàng cao cả
Đang bắt tay luyện đá vá trời
Một trời Đại học, một trời Văn khoa.”
Và lạ lùng thay trời đất như cũng đền bù cho ông một phần thưởng quá đẹp: Ông là nhà giáo hiếm hoi ngất xỉu hôn mê ngay trên bục giảng rồi chết trong vòng tay của học trò.
…………………………………………………………………..

Tôi viết bài này vào một ngày Tết để có thể đăng báo kịp vào dịp kỷ niệm 90 năm ngày sinh nhà thơ Đông Hồ (10/3/1906) cho nên không thể nào không liên tưởng đến bài thơ nổi tiếng mỗi khi Tết đến “Mỗi năm hoa đào nở, lại thấy ông đồ già…” của Vũ Đình Liên. Vâng, thầy Đông Hồ với tâm huyết, với cách dạy của mình cũng là một ông đồ Nho, một ông thầy đồ giữa thế kỷ 20! Một trong số ít ông đồ cuối cùng có thật của chúng ta.
Thầy Đông Hồ đã ra đi 26 năm, Vũ Đình Liên thì đã mất cách đây gần hai tháng (1996). Rồi còn ai nữa “những người muôn năm cũ. Hồn ở đâu bây giờ?”.
Nền văn hóa - giáo dục dân tộc của chúng ta đã từng có và mãi mãi sẽ cần có nữa những ông đồ như thế – những ông đồ “hiện đại” của thế kỷ 21, thế kỷ 22…
CAO HUY KHANH
Đầu năm Bính Tý 1996 (Văn Nghệ TP)

Thứ Ba, 8 tháng 1, 2008

NGUYỄN BẮC SƠN

NGUYỄN BẮC SƠN

lời bạt

nhà có mảng tường hoa

thơ: vũ hy triệu









thơ vũ hy triệu đọc xong thấy giống như tiếng nói mà lòng mình muốn nói, tiếng khóc mà lòng mình muốn khóc, tiếng ca Âm thầm thanh thản thấm đậm nhân tình, nhân nghĩa trong cõi phù sinh.

Thơ anh kết thật hay, bật sáng lên cái ý nghĩa Triết Đạo một cách tự nhiên như hoa trôi, nước chảy, nhạn bay rơi hình xuống khe nước ro re, gió lồng lộng trên đỉnh đời gió hú, tóc nhiều sợi hoa râm và một nụ cười ung dung thanh thản.

Thơ Triệu là một trái cây đã chín muồi tự tỏi mùi hương thầm kết tinh của một kiếp người khổ đau mà vẫn bao dung, đôn hậu và cái tinh thần triết hài (Humour) của một hiền nhân đứng bên bờ giải trình.

Nbs.

Xem nội dung tập thơ ở trang http://vanvietloc.googlepages.com/vanvietloc

Thứ Bảy, 24 tháng 11, 2007

MAI TRINH ĐỖ THỊ

MAI TRINH ĐỖ THỊ







Minh họa : vũ hà nam

chiếc lá cuối cùng


những chiếc lá cuối cùng của ngày tàn rơi xuống dòng sông xanh biếc
mùa đông trở lại chàng không về những cành cây khô vừa buông lời từ biệt
tôi vừa tìm lại dấu vết chàng sau tro bụi của thời gian qua
tôi vừa tìm lại dấu vết tôi trong lược gương của mùa vàng vừa hết
những dấu vết của hai con người chen nhau lấp lánh chung quanh những bộ mặt đời im lìm
ôi cùng với thời gian đôi ta thành người xa lạ

khi chiếc lá cuối cùng của ngày tàn rơi xuống u buồn đường phố đêm nay
tôi đi như người say trong men yên lặng tìm bắt vầng trăng mê man bên ngoài không gian quen biết .Chàng trở về mắt lớn sương đêm môi giá buốt
tôi nhìn chàng mơ hồ thấy. Chàng nhìn tôi hồn trong suốt đâu đâu
những con mắt của hai con người chen nhau lấp lánh chung quanh những bộ mặt đời im lìm
cùng với thời gian đôi ta thành người xa lạ
xa lạ bởi vì ta đã yêu nhau.


chuyện kể về hạnh phúc








Minh họa : vũ hà nam


những chiếc áo
sẽ giúp em vô cùng rực rỡ
trong mùa đông này, ơi mùa đông ấm áp
một chút sa-kê hâm nóng khi trời bình minh
làm mềm môi em hồng cánh tay anh
em ra phố và nói với mọi người thật hạnh phúc
(hài nhi trên tay, con của chúng ta)
những chiếc áo
sẽ giúp em vô cùng đẹp đẽ
khi thời tiết bắt đầu giá lạnh
những đứa bé nghịch nước
tóe nhau cười vang
anh gọi to cô bé quàng khăn đỏ
băng qua con sông thầm lặng một mình
em vẫn còn là cô bé khi con của
chúng ta cười trong nôi
mưa bắt đầu rơi
nên em chưa thể ra phố để nói với mọi người
thật hạnh phúc

những tiếng nói
sẽ giúp tình yêu em thêm phần ảo diệu
đứa bé bi bô
bắt đầu đùa nghịch đòi tóe nước
buổi sáng đi dạo vườn hoa trở về gọi mẹ
tay che môi anh cười lặng lẽ
bên kia đường những trẻ con gọi nhau nhập bọn
em choàng khăn đỏ đi tìm mọi người để nói rằng
chúng ta hạnh phúc


cầu nguyện trong vười Lĩnh nam




liêu trai một hạt đèn đêm
giọt sương đọng một nét nhìn…long lanh
chợt là em, chợt là anh
trăm năm cũng chợt viên thành phút giây
chiêm bao treo ngược bờ ngày
hai đầu ân ái một dây nửa vời
liêu trai một giọt đèn thôi
hạt trăng vô định cõi người đăm đăm
anh theo chiếc lá vô thường
một hôm rụng xuống nỗi buồn tử sinh

còn em một gốc tử phần
rồi ra giả tướng giả thân -hiện bày

mtdt.